CHUYỆN CON CÚN – Truyện ngắn


Nguyễn Khắc Phước
CHUYỆN CON CÚN
Truyện ngắn

Hồi còn nhỏ, thằng cu Cường nhà tôi nhiều lần đòi nuôi chó nhưng tôi giả lơ vì tôi không thích chó lắm. Hết phổ thông đến đại học, nó túi bụi học hành nên sở thích nuôi chó của nó phải tạm gác. Thế nhưng, khi đã học xong và có việc làm, nó lại hỏi: Sao nhà mình không nuôi chó?

Ở xóm tôi, hầu hết nhà trước đây đều có vườn tược. Ngoài nuôi gà, vịt, hầu như nhà nào cũng có nuôi chó. Nhưng sau khi giải toả để lập khu dân cư mới, nhà vườn biến thành nhà phố, nuôi chó rất bất tiện và mất vệ sinh. Hàng xóm láng giềng đều là người xa lạ, nuôi chó mà không có vườn, lỡ nó sang ỉa trước nhà hàng xóm sẽ bị chửi ngay. Nếu nó chạy ra đường sẽ bị bọn săn chó đánh chết, hoặc có ngày cũng bị công an phạt. (Tôi cũng mong luật cấm chó thả rông được áp dụng nghiêm ngặt để khỏi dẫm phải cứt chó!)

Tôi đã cảnh báo thằng con tôi như vậy nhưng nó không nghe và rồi nó kiếm đâu đó về một con cún rất dễ thương. Nó thích nuôi chó nhưng không biết cách chăm sóc, chỉ thả đấy, và tôi trở thành người nuôi chó bất đắc dĩ. Hằng ngày tôi phải cho chó ăn, dọn phân, lau nước đái, tắm cho chó. Cả nhà biến thành cái chuồng chó, chỗ nào cũng hôi hám.

Mặc dù là chó ta, nhưng chuyện ăn uống cũng rắc rối. Lúc mới bắt về, chỉ cần cơm chan canh, nó cũng xực mấy bát. Vài ngày sau, nó không chịu, phải chuyển qua cơm trộn cá. Được ít bữa, nó chán cơm cá, phải chuyển qua cơm trộn đồ xào. Dù mỗi lần chán ăn, có thể nhịn một hai ngày, nhưng nó cũng lớn rất nhanh.

Gặp lúc nó đang chán cơm trộn đồ xào, đang nhịn hơn một ngày không ăn gì, thì có cô bé hàng xóm bưng qua thết nó một tô xương gà đầy ắp, nó tha hồ gặm đi gặm lại đến hai ngày mới hết.

Kể từ đó, cứ hai ba hôm, cô bé lại mang một tô, khi thì xương gà, khi thì xương vịt, khi thì đầu cá to bự, khi khác thì thịt bò, thịt heo. Con chó nhà tôi mập lên thấy rõ và tôi phải đi hót phân ngày đến hai, ba lần!

– Con bé ấy nhà nào mà trông dễ thương, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép? Nhà nó có vẻ ăn sang hơn nhà mình nhiều. Tôi hỏi vợ tôi.

– Con Sương, con gái anh Ngọc ở cái nhà ba mê phía bên kia đường, từ nhà mình ngó xéo là thấy. Ông ở xóm nầy gần chục năm rồi mà vô tình quá! Được đó ông.

– Được cái chi?

– Được cái nết của nó. Lại cao ráo dễ thương. Được cái nữa là nó đã tốt nghiệp đại học và đang làm ngân hàng, lương tháng gần ba triệu. Được cái nữa là hàng xóm láng giềng có quen biết, nói chuyện dễ hơn. Được cái nữa là đỡ tốn tiền thuê xe cộ. Được cái nữa là mai mốt sinh đẻ, nó nằm nhà mẹ, mình đi lại dễ dàng…

– Nãy giờ bà nói được được, tôi không hiểu gì hết.

– Thì tôi định nói con bé ấy cho thằng cu lớn nhà mình. Ông không thấy nó được sao?

– Nếu được vậy thì tốt quá. Nhưng nhà người ta là cán bộ cấp côi. Bà không thấy khách khứa tấp nập, ăn uống sung sướng, xe cộ láng coóng, còn nhà mình mới chỉ đủ ăn ba bữa mà đòi môn đăng hộ đối thì sao được. Bỏ qua cái ý nghĩ đó đi. Vã lại, hai đứa có quen biết nhau gì đâu.

– Trời ơi, ông không biết đó thôi. Mỗi lần nó qua, cho chó ăn xong là hỏi: Anh Cường đâu rồi bác? Dạo này ảnh hay đi chơi về khuya quá, bác không la hả? Anh Chương nhà con hồi đó cũng vậy nhưng má con la quá nên không dám đi nữa. Đó, ông thấy con cái gia đình ấy có giáo dục hơn con nhà mình. Ông không biết dạy con gì hết. Nó ưng thằng cu Cường nhà mình rồi đó. Ông là thứ vô tình không biết đó thôi. Con người ta đẹp người đẹp nết như vậy mà ông không ưng thì cũng chịu thôi. Đám ấy quá tốt, còn nói vòng vo gì nữa. Con mình đã lớn rồi…

– Tôi nói không ưng và vòng vo hồi nào?

– Nghe nói bố nó làm quan chức gì lớn lắm ở ngành điện lực. Vậy là có cơ may chuyển thằng con mình qua ngành điện.

– Thằng cu mình học ngành hoá chớ có phải ngành điện đâu. Ngành điện đời nào người ta tuyển kỹ sư hoá hữu cơ.

– Thì ít ra nó cũng kỹ sư. Kỹ sư thì làm gì mà chẳng được. Bạn của ông có người tiến sĩ sử học mà làm giám đốc cảng biển sao ông không nói gì?

– Nói chuyện với bà mất công quá. Thôi được, tôi ô kê, bà làm chi thì làm.

Mọi chuyện vẫn xảy ra bình thường. Con chó nhà tôi hằng ngày thấy Sương đi làm về là vẩy đuôi mừng rỡ. Mỗi lần Sương mang đồ ăn đến là nó nhảy lên liếm vào mặt cô bé. Nó chưa làm vậy với tôi bao giờ. Thằng Cường nhà tôi cũng thỉnh thoảng đứng nói chuyện với Sương trước hiên nhà. Hai đứa có vẻ hợp nhau, tôi nghĩ vậy, đặc biệt con bé luôn cười nói vui vẻ tự nhiên, không chút e thẹn.

Một lần, tôi hỏi Sương:

– Chó nhà con không ăn mấy thứ nầy sao?

– Từ hồi chó nhà con bị mấy thằng săn chó bắt thì nó nhác ăn. Hôm đó nó đang đứng chơi ngay trước cửa nhà thì mấy thằng ấy nhảy vào cầm cây ống nước bằng nhôm đánh nó rồi mang đi. Trời ơi, con khóc húp cả mắt. Ba con chạy đi mấy cửa hàng thịt chó và may mắn tìm được nó chưa chết, chỉ bị thương. Ba con bỏ một trăm ngàn để chuộc nó về. Một thời gian sức khoẻ nó bình phục, chỉ có cái cổ bị gảy xương, bây giờ hơi cong cong, tính của nó cũng hơi lảng lảng. Bây giờ nó chỉ uống sữa, cũng may chỉ thích loại sữa bột nguyên kem là thứ ít tiền. Bác thấy con cứ cầm cái tô chạy theo nó dỗ như là dỗ trẻ lên ba nhưng nó không thèm ngó vào tô có thứ gì.

Rồi nhà anh Ngọc lên thêm một tầng và làm mới hết mặt tiền. Nhà chỉ có bốn người, vậy là mỗi người một tầng. Không hiểu làm chi cho to vậy?

Con chó đực nhà tôi cũng đã làm quen được với con chó cái nhà ấy và hai con thỉnh thoảng qua lại chơi với nhau mỗi khi được thả.

Một tuần sau thấy nhà anh Ngọc treo đèn kết hoa, tôi hỏi vợ tôi chuyện gì vậy. Bà nói:

– Đám cưới con bé Sương con anh Ngọc, nó thường mang thức ăn cho chó nhà mình đấy.

Bà vợ tôi chỉ trả lời vậy thôi và không nói gì nữa, không nói được cũng không nói mất. Tôi cũng làm thinh.

Mặc dù hàng xóm láng giềng gần chục năm, nhưng vợ chồng tôi chưa quan hệ nhiều lắm với gia đình ấy nên không được mời. Người ta nói “gần nhà mà xa cửa ngõ” để chỉ mối quan hệ lạnh nhạt không nên có giữa những người hàng xóm láng giềng, bởi vì quan hệ xóm giềng là mối quan hệ “tắt lửa tối đèn có nhau”. Thế nhưng khi làng xóm bị giải tỏa, bà con xóm giềng mỗi người tứ tán một phương, lại bắt đầu làm quen với hàng xóm mới (đa phần đều là người giàu có mua lại đất của người bị giải tỏa), phải sống kiểu “đèn nhà ai nấy rạng”, mới thấy hết ý nghĩa của câu đó.

Một ngày sau đám cưới, con chó nhà tôi biếng ăn, suốt ngày cứ nhìn sang nhà Sương.

Hôm sau, nó được mở xích, và ngay khi nó phóng ra, hai tay săn chó đi xe máy ập đến, đập vào đầu nó bằng một cây sắt và cầm cổ xách đi mất.

Ba ngày sau đám cưới, Sương trở về nhà. Buổi tối, Sương bưng qua nhà tôi một tô đầy xương gà, vui vẻ kêu “ki ki”. Tôi ái ngại nói:

– Nó bị người ta đập chết mang đi rồi, con ơi.

– Trời ơi !

Tôi thấy Sương tiu nghỉu bưng tô xương gà trở về, vừa đi vừa khịt mũi, dường như cô ấy khóc. Nhưng Sương không bưng tô xương vào nhà mình mà đi vào con hẻm phía sau nhà, có lẽ để cho con chó khác ăn.

Nguyễn Khắc Phước

Advertisements

NHÀ THỜ HỌ – truyện ngắn Nguyễn Khắc Phước

NHÀ THỜ HỌ

Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước

      Bên kia đầm Thủy Tú, nhìn từ quốc lộ, là một dãi xanh mờ gồm những làng chài nối tiếp nhau. Ngày xưa, dân chài ở đây nghèo lắm. Họ đánh cá bằng ghe nhỏ, thúng, và kéo lưới ven bờ. Nhà họ là những mái tôn tạm bợ, dễ dàng dựng lại sau cơn bão. Trong chiến tranh, người đi lính bên này, kẻ bên kia, riêng thanh niên Trần Mẹo may mắn bị người ta chê vì đôi mắt lé. Phụ nữ cũng chê lão lé và nghèo, chỉ đánh cá bằng cách kéo lưới ven bờ, không có lấy một cái thúng, nên mãi đến quá nửa đời, sau chiến tranh, lão mới lấy được vợ, một phụ nữ có chồng chết trận. 

Read more of this post

TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA – Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước

TRUYỀN THUYẾT SÔNG THÁC MA
Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước

– Có thích ăn thịt heo rừng không?
Thằng bạn nhà báo gọi tôi.
– Thích. Mầy đang ở đâu?

– Sài Gòn. Nhưng tao mời mầy ăn thịt heo rừng ở thượng nguồn sông Thác Ma.
– Thác Ma ở đâu?
– Thác Ma còn gọi là sông Mỹ Chánh chảy qua làng mầy mà mầy không nhớ hả?
– Biết đâu còn có sông Thác Ma nơi khác.
– Cái tên dễ sợ vậy mà ai dám đặt. Chỉ có ở Quảng Trị mình thôi.
– Vậy lúc nào mầy về?
– Chiều thứ sáu tới mầy phải có mặt ở Quảng Trị để sáng thứ bảy là đi.

Thế là sáng thứ bảy đầu tháng Sáu năm ngoái, hai thằng tôi đi xe máy thồ từ Mỹ Chánh theo con đường dọc bờ sông hướng về phía tây mà tiến. Đi đến trưa thì nghỉ và chuyển sang đi bộ vì đến đoạn xe máy không thể chạy được. Chẳng mấy khi phải đi bộ băng rừng, tôi thấy đường này ngán quá, nhưng bạn tôi, vốn là dân hướng đạo, nói đường này đối với nó cũng như đường làng, chẳng nhằm nhò gì, và động viên tôi cố lên. Thế là tôi đành phải theo. Đi bộ leo núi gần hết buổi chiều mới đến được trang trại của anh Đoàn, một người quen của bạn tôi.
Đó là một khu đồi khá bằng phẳng mà anh dùng để nuôi loại heo lai giữa heo rừng và heo nhà. Heo thả đi kiếm ăn tự do. Chúng ăn bất cứ côn trùng nào kiếm được, và giống như chó, chúng còn thích phân người. Mỗi lần ra rừng đi ngoài, nhớ mang theo cây gậy, vừa ngồi vừa huơ huơ, nếu không thì có thể bị heo húc từ phía sau để tìm thứ chúng thích.
Buổi tối ngồi bên bếp lửa hừng hực, vừa nhắm rượu ngoại mà bạn tôi công khó mang từ Sài Gòn, vừa nhai thị heo nướng ướp cũ nén thơm phức. Mùi rượu, mùi thịt nướng, mùi nén quyện vào nhau thành một thứ ngon không thể tả. Và càng ngon hơn vì biết chắc thứ thịt heo này 100% không có chất bảo quản hay thuốc tăng trọng như thịt heo ở thành phố.
Sau chuyện thịt heo, tôi hỏi anh chủ trại vì cớ gì mà người ta đặt tên con sông ở đây là Thác Ma, nghe dễ kinh. Tôi cũng phân bua rằng mặc dù tôi sinh ở vùng này nhưng chỉ ở đây gần 15 năm, mà ở xa quê đến 40 năm, nên không có thì giờ để tìm hiểu hết mọi thứ.
Có vẻ bắt trúng đài nên anh chủ trại rót rượu đầy cốc, hô cạn chén, và bắt đầu kể. Anh chủ trại cho biết chuyện anh sắp kể được truyền miệng từ ông vãi của anh, người đã tham gia trong loạn Chày Vôi của Đoàn Trung- Đoàn Trực và phải bỏ lên rừng sống với người Cờ-tu ở vùng biên giới Việt Lào.

&&&

Mụ C’Lâu chết ở tuổi bảy mươi. Vào lễ khâm liệm, lúc sắp bỏ vào hòm, người nhà phát hoảng khi bỗng nghe mụ kêu khát nước. Nhà đám chuyển từ lễ tang sang lễ ăn mừng bà nội sống lại.

Đúng vào ngày hôm đó, trong buôn làng có một cái chết rất thương tâm của một cô gái tên là Riah.
Cha Riah là người chuyên săn bắn và mang thịt xuống miền xuôi để bán. Một người từ bên kia biên giới nhờ lão chuyển những gói nhỏ chưa thưa màu nâu giống như phân gà sáp giao cho một người khác ở nơi lão đến. Và để trả công, mỗi lần lão được biếu không một gói, được khuyên bỏ vào thuốc lá hút cho khỏe người. Lão không biết rằng đó là thuốc phiện. Càng hút lão càng nghiện, phải bỏ tiền ra mua thêm, mấy cũng không đã. Nương rẫy lão cầm cố hết, đến hồi phải đưa con gái là Riah vào ở đợ cho nhà Alang, một người giàu có trong buôn để lấy tiền mua thuốc phiện. Aviet, một chàng trai con nhà nghèo cũng đang ở đợ nhà Alang, đem lòng yêu Riah. Thế nhưng mối tình đó vở tan khi cha Riah bắt nàng về bán cho người ta để trừ nợ thuốc. Riah bỏ trốn cùng với Aviet đến sống trong một nhà Zơng trên một đám rẫy bỏ hoang. Cha Riah đi tìm và bắt nàng về. Khi đi ngang qua Vực Kè, nàng nhày xuống tự tử. Dưới bờ vực sâu hơn trăm mét là một thác nước chảy xiết, cuốn xác nàng không biết về đâu.
Kể từ sau cái chết của Riah, đêm nào Aviet cũng đến ngồi trên Vực Kè, gọi tên nàng và khóc lóc thảm thiết. Anh ngồi đó đến nửa đêm mới về nhà Alang. Một đêm, lúc sắp ra về, dưới ánh trăng thượng tuần hư ảo, anh ớn lạnh khi thấy một bóng người đang đi về phía anh. Lúc đầu anh nghĩ là ma nhưng đến gần anh biết đó là người, và không ai xa lạ, chính là mụ C’Lâu vừa mới mất và sống lại cách đó vài hôm.
– Này mụ C’Lâu. Mụ đi đâu vào giờ này?
– Không phải là mụ C’Lâu đâu anh. Em chính là Riah đang mượn xác mụ C’Lâu để về với anh đây. Thân xác mụ bây giờ đã trẻ lại mấy chục tuổi rồi nhờ có linh hồn của em. Không tin anh hãy ôm em đi.
Hai bóng quyện vào nhau, khóc rồi cười, cười rồi khóc cho đến khi gà rừng gáy sáng mới chia tay.
Kể từ ngày mụ C’Lâu sống lại, người nhà thầy mụ mỗi ngày một trẻ ra, da thịt căng và hồng hào như con gái. Đặc biệt là mụ cấm khẩu, không nói một lời. Không ai phát hiện mụ ra khỏi nhà vào ban đêm vì không ai dám ngủ gần mụ, sợ rằng mụ sẽ bắt về cõi âm. Thế nhưng, vào đêm thứ bốn mươi chín sau ngày mụ sống lại, một người cháu trai tình cờ phát hiện và đi theo mụ. Anh thấy mụ đi về phía Vực Kè và một người thanh niên đang ngồi ở đó chờ mụ. Người đó là Aviet, người yêu của Riah, cô gái đã tự tử trước đó bốn mươi chín ngày. Hai người ôm nhau tâm sự, khóc cười, lăn lóc trên kè đá, quên hết trời đất. Đến khi trăng sắp lặn và gà rừng gáy sáng thì bỗng cả hai ôm nhau nhảy xuống bờ vực. Người cháu chạy lên bờ vực ngó xuống, không thầy gì ngoài bóng tối. Lẫn trong tiếng thác nước réo ầm ào, hình như vẫn còn nghe tiếng tiếng khóc tỉ tê, tiếng cười man dại ma quái dội vẳng lên từ vực sâu.

NKP

ĐÔI MẮT NGƯỜI MẪU, truyện ngắn


Truyện ngắn của Nguyễn Khắc Phước

ĐÔI MẮT NGƯỜI MẪU

– Chị Mai biết ai đây không?
Có người nào đó bịt mắt tôi từ phía lưng và hỏi khi tôi đang ngắm tranh tại một phòng trưng bày gần chợ Đồng Xuân. Quay lại, hóa ra là Hạnh, cô bạn nhỏ ngày xưa học cùng trường và ở cùng xóm.
– Ồ Hạnh, em đi du lịch theo đoàn nào?
– Em đi một mình và ở đây gần ba tháng rồi. Đang ngồi buồn mà gặp chị thì may quá. Để em đóng cửa phòng tranh rồi chị em mình vừa đi dạo vừa nói chuyện.
– Em quản lý phòng tranh này?
– Dạ.


– Khoan đã, em thuyết minh cho chị hiểu về mấy bức tranh này, được không?
– Tất cả những bức sơn dầu này là tranh của họa sĩ Hoàng và,  như chị thấy, chủ đề là phụ nữ khỏa thân. Nhưng không chỉ có vậy.  Tranh này dùng kỹ thuật ảo thị giác, tiếng Anh gọi là optical illusion, mới nhìn chỉ thấy một tranh nhưng nhìn kỹ sẽ thấy một tranh khác, nói nôm na là 2 trong 1. Nhìn thẳng thì tranh này là một thiểu nữ tuổi đôi mươi căng đầy nhựa sống nhưng chỉ cần nghiêng đầu về bên phải một chút sẽ thấy một bà lão tám mươi má hóp da nhăn. Họa sĩ muốn diễn tả cái gì thì chắc chị cũng hiểu.
– Sắc đẹp thân thể của phụ nữ chóng phai tàn?
– Dạ. Chỉ cần một giây để quay đầu thì một đời người xem như đã qua. Chị hãy nhìn bức tranh bằng cách quay đầu qua lại nhiều lần và tự cảm nhận cái chóng vánh của một kiếp người, sinh trụ dị diệt chỉ trong một giây. Nói chung, họa sĩ muốn diễn tả ý niệm vô thường, vạn pháp luôn luôn biến đổi, không một vật gì có thể tồn tại lâu hơn một sát na. Em tóm tắt ý của họa sĩ  chứ em cũng chỉ nghĩ như chị mà thôi.
– Tranh của họa sĩ Hoàng có lẽ rất kén người mua bởi người ta thích ngắm người đẹp chứ mấy ai muốn ngắm bà già?
– Vậy mà có một nhà sưu tập từ Thái Lan đã đặt cọc một tấm rồi, chị ạ.
– Cuộc đời họa sĩ có liên quan gì đến những bức tranh này không?
– Chúng ta đi kiếm quán phở, vừa ăn vừa nói chuyện chị nhé?

<><><>

Hạnh tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật và hiện đang dạy môn mỹ thuật bậc trung học ở Đà Nẵng. Đã trên 40 tuổi nhưng cô vẫn chưa có gia đình và thường lên mạng để kết bạn, trong đó có một họa sĩ tên Hoàng. Một hôm có một phụ nữ tên Minh, tự giới thiệu là  người Hà Nội đang dạy tại một trường đại học ở Đà Nẵng, đến nhà và hỏi Hạnh có quen họa sĩ Hoàng ở Hà Nội qua mạng không. Hạnh nói có. Minh nói Hoàng là người bà con và nhờ chị liên lạc trực tiếp với Hạnh để mời Hạnh ra Hà Nội quản lý gallery của anh một thời gian bởi Hoàng biết Hạnh có đôi chút kiến thức về hội họa và nói được tiếng Anh. Gallery này trước đó do vợ anh quản lý. Hạnh hứa sẽ giúp anh chỉ trong kỳ nghỉ hè và đó là lý do Hạnh có mặt tại Hà Nội đã gần ba tháng nay.

Lâu lâu Hoàng đến phòng tranh và tâm sự với Hạnh. Anh kể về lần đầu tiên anh gặp Liên, vợ anh. Hồi đó, sau khi tốt nghiệp cấp 3, trong một chuyến về quê thăm ông bà nội, anh thường ra sông câu cá và thấy một cô gái chiều chiều ngồi giặt áo trên bến bên kia sông. Nhìn từ xa, Hoàng biết cô ấy rất duyên dáng, dịu hiền. Khúc sông đó không có cầu nên Hoàng bắt đầu tập bơi. Trong vòng hai tuần thì Hoàng bơi được và quyết định bơi qua sông khi nàng đang giặt áo. Thế nhưng khi cách bờ chừng mười mét thì Hoàng đuối sức, ngộp thở và chìm xuống nước. Khi tỉnh dậy vừa mở mắt, Hoàng thấy một khuôn mặt thanh tú đang nhìn mình mĩm cười với đôi mắt dịu dàng, nhân từ, hiền hậu như một thiên thần. Hoàng ngỡ mình đang ở thiên đường! Tiếng cười khúc khích của nàng làm Hoàng tỉnh hẳn và nhớ mình đã bơi đuối sức và ngạt thở. Nhìn áo quần nàng ướt sủng, để lộ những đường cong thanh tú của một thiếu nữ mới lớn, Hoàng biết nàng đã cứu mình. Thay vì chết chìm trong nước, Hoàng biết mình rồi sẽ chết chìm trong đôi mắt diễm tuyệt này.

Ngày xưa khi Tây Thi giặt áo bên sông, cá thấy bóng nàng đẹp quá, say mê quên cả bơi đến nổi phải chìm xuống nước, còn Hoàng say mê Liên đến nổi chìm đến hai lần, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Thế rồi họ yêu nhau, cưới nhau và dắt nhau về sống trong một tổ ấm nhỏ ở một con hẻm bên Hồ Tây. Không biết hai người hạnh phúc được bao lâu cho đến khi những khó khăn của cuộc sống vật chất mỗi ngày cứ lù lù đi vào cửa trước thì tình yêu cũng len lén theo cửa sau mà đi ra. Như người ta có câu: Tình yêu là ngôi sao mà người đàn ông vừa đi vừa nước lên nhìn, còn hôn nhân là cái hố mà hắn sẽ sụp xuống. Và Hoàng khổ sở như đang ở dưới lỗ cống.

Hoàng than thở rằng Liên bây giờ không còn là cô gái quê thùy mị nết na ngày xưa mà trở thành người đàn bà vật chất, câu cửa miệng luôn là tiền đâu? tiền đâu? Xã hội này phát triển quá nhanh: từ cái quần đen bạc màu nhăn nhó đến cái váy, quần jeans; từ cái đài và xe đạp đến cái tivi treo tường và xe tay ga chỉ chừng hai chục năm. Tranh cũng có giá cao hơn nhưng không thể xuất hàng loạt như  tivi và họa hoằn may mắn lắm mới bán được một tấm. Hàng xóm sắm sửa đủ thứ nhưng nhà anh thì không. Liên thôi không giúp anh trong xưởng vẽ để kiếm việc riêng. Và khi người ta độc lập về kinh tế thì cũng muốn được tự do. Hoàng đi chơi với người mẫu thì tại sao Liên không được đi chơi với bạn bè nhỉ?  Rồi hai người quyết định âm thầm chia tay, âm thầm bởi chí có tòa án biết, còn bà con, bạn bè không hay bởi vẫn thấy họ ở chung một nhà. Cà hai đều biết nếu bán nhà chia đôi thì khó kiếm được nhà khác trong nội thành, do đó tạm thời chịu đựng.  Cũng vì lý do giữ bí mật mà Hoàng nhờ Hạnh từ Đà Nẵng ra trông coi cái gallery của anh. Có lần anh hỏi Hạnh: Em có dám ở lại luôn với anh không? Hạnh nói: Không dám. Em đang nghĩ cách gì đó để hai anh chị làm hòa với nhau.

Trong thời gian Hoàng đi miền Nam để dạy môn hội họa cho mấy trường sư phạm thì có một người khách từ Thái Lan ghé phòng tranh. Sau khi ngắm tranh rất kỹ, ông quyết định mua một tấm với điều kiện gặp được tất cả sáu người mẫu. Liên hỏi ông gặp với mục đích gì nhưng ông không nói, cô đành tìm đọc nhật ký phòng tranh để tìm địa chỉ của những người mẫu và mời họ đến. Ông đã gặp cả sáu cô và cô nào ông cũng chỉ tiếp chuyện dăm phút, tặng quà và cho họ về. Ông yêu cầu Hạnh cho ông được gặp họa sĩ. Rất may là Hoàng cũng vừa kết thúc công việc và trở về Hà Nội.

Ngay ngày đầu đến Hà Nội, Hạnh được Hoàng mời đến thăm nhà nhưng cô từ chối. Lần này, do ông khách người Thái yêu cầu nên cô phải dẫn ông đi. Hạnh ngạc nhiên thấy vợ Hoàng ở tầng dưới còn anh thì ở tầng trên. Cô tự hỏi không biết tình trạng hôn nhân của họ thực sự như thế nào mặc dù đã nghe anh kể khá rõ.

Liên tỏ ra khá vui vẻ khi được Hạnh tự giới thiệu mình và ông khách người Thái. Mặc dù được chỉ lên gác nhưng ông xin được ngồi nghỉ một chút ở tầng trệt với lý do huyết áp cao. Sau khi nói chuyện với Liên dăm phút, ông theo Hạnh lên tầng trên gặp họa sĩ.

Sau khi chào hỏi, ông khách người Thái nói: – Tôi rất thích tranh của ông vì cái triết lý vô thường mà ông muốn diễn đạt nhưng tôi tìm gặp ông không phải vì chuyện ấy. Tôi đã gặp tất cả người mẫu của ông và họ đều là những phụ nữ đẹp, mỗi người một vẻ, chẳng ai giống ai. Thế nhưng trong tất cả những bức tranh, họ đều có một nét giống nhau, khi gặp họ, tôi có chú ý nhưng họ đều không có. Tôi đến đây là để hỏi ông cái nét đó của ai hay chỉ là tưởng tượng.

Hoàng nói: – Tôi cố tình mời những người mẫu khác nhau, và những nét khác nhau của họ tôi đã nhấn cho rõ rồi, còn những nét giống nhau thì tôi không chú ý lắm. Vậy theo ông nét gì của những nhân vật trong tranh giống nhau?

Ông khách người Thái nói: – Đôi mắt. Đó là đôi mắt của một cô gái chưa từng luyến ái, chưa bị hệ lụy với những đau khổ của cuộc đời, hết sức ngây thơ. Dù không thích hợp với những thân hình bốc lửa của người mẫu, nhưng chính đôi mắt đó làm những bức tranh khỏa thân ít bị trần tục hơn.

Hoàng ngạc nhiên: – Cám ơn ông rất nhiều. Vậy mà tôi không biết. Thường tôi chỉ làm việc với người mẫu vài giờ, không kịp vẽ đôi mắt. Tôi chỉ vẽ mắt theo tưởng tượng, không biết mắt ai.

Ông khách người Thái nói: – Ông không biết nhưng tôi đã tìm ra rồi. Đó là đôi mắt của vợ ông. Không phải đôi mắt bây giờ mà có lẽ ngày xưa còn trẻ. Ông diễn tả cái vô thường của vạn pháp nhưng ông lại bắt đôi mắt của vợ ông vẫn trẻ hoài như ngày xưa được sao?

Câu chuyện của họ trở nên vui vẻ và sau đó chuyển sang đề tài Phật giáo.

Có thể Liên ở tầng dưới cũng nghe được câu chuyện.

<><><>

– Gần hết hè rồi mà em không về dạy sao? Hay là em ở lại luôn với ông họa sĩ? Tôi hỏi.
– Em định về trong tuần này vì đã có người trực thay.
– Ai vậy?
– Thì chị Liên, vợ ông họa sĩ Hoàng chứ ai.
– Vậy là họ …?
– Có lẽ họ đã làm hòa với nhau, em cũng cầu mong như vậy.

Nguyễn Khắc Phước